| |
|
|
|
|
|
   |
|
|
|
Hoc
viên Công nghê Bưu chinh Viên thông cơ sơ TP Hô Chi
Minh Tổ chức nghiệm thu các công trinh khoa hoc
(12/01/2009) |
|
Trong những ngày đầu
tháng 1 năm Kỷ Sửu 2009, mặc dù bề bộn với biết bao
công việc như tổng kết công tác năm 2008, đề ra kế
hoạch công tác năm 2009, tổ chức gặp mặt thăm viếng
các gia đ́nh chính sách, cán bộ hưu trí, nhưng Học
viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông cơ sở Tp. Hồ Chí
Minh (gọi tắt là Học viện cơ sở) vẫn tổ chức các
buổi nghiệm thu 3 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Học
viện năm 2008 dưới sự chủ tŕ
củaTiên sĩ Trần Công Hùng - Trưởng khoa CNTT2, cùng
với sự có mặt của Tiến sĩ Lê Quốc
Cường ( Phó Giám đốc Học viện- phụ trách cơ sở TP.
Hồ Chí Minh), đó là các đề tài: “Chuyển tiếp IPv6
(Transition To IPv6” của Thạc sĩ Nguyễn Thị Phương
Dung, Khoa Công nghệ Thông tin 2- Khoa CNTT2”; “Xây
dựng và triển khai hệ thống tra cứu thông tin qua
màn h́nh cảm ứng ứng dụng tại Học viện Công nghệ Bưu
chính Viễn thông cơ sở TP. Hồ Chi Minh” của Thạc sĩ
Lê Tuấn Anh, Khoa CNTT2; “Xây dựng chương tŕnh phát
sinh bộ đề thi trắc nghiệm cho môn kỹ thuật đồ họa”
của Thạc sĩ Trần Minh Nhật, Khoa CNTT2. Đây là các
đề tài được đăng kư, nghiên cứu triển khai thực hiện
trong khoảng thời gian khá ngắn (gần 2 tháng), tuy
nhiên các ư kiến phản biện và các thành viên trong
hội đồng nghiệm thu đều nhất trí đánh giá chất lượng
của các đề tài khá cao, tất cả các đề tài đều có thể
đem áp dụng vào thực tiễn tại Học viện cơ sở.
1- Việc chuyển tiếp IPv6 là cần thiết:
trong phần giới thiệu khái quát đề tài của ḿnh,
Th.s Nguyễn Thị Phương Dung chỉ ra những bất cập
không gian địa chỉ IPv4, đó là: thế hệ địa chỉ phiên
bản IPv4 mà hệ thống các máy tính sử dụng trên mạng
Internet gồm 32 bit. Trên lư thuyết, không gian IPv4
chỉ dung nạp được khoảng 4 tỉ địa chỉ (thực tế sử
dụng ít hơn). Với sự bùng nổ thông tin, sự phát
triển nhanh như vũ băo của nền khoa học kỹ thuật và
công nghệ hiện đại th́ không gian địa chỉ IPv4 không
thể đáp ứng cho nhu cầu sử dụng, đồng thời với những
hạn chế vốn có của nó như hạn chế không gian địa chỉ,
cấu trúc định tuyến không mềm dẻo, tính bảo mật
không cao… , từ đó thế hệ địa chỉ internet mới được
ra đời, đó là phiên bản IPv6. Mặt khác, IPv6 sẽ phù
hợp hơn với cấu trúc của mạng thế hệ sau NGN (Next
Generation Network) bởi sự hội tụ mạng viễn thông và
internet ngày càng trở lên rơ nét nhằm cung cấp một
nền tảng cơ sở hạ tầng duy nhất, đồng bộ, đa dịch vụ.
Đề tài đi sâu phân tích
về các đặc điểm của IPv6 như: có định dạng tiêu đề
gói ngắn gọn và mềm dẻo hơn next header, sự kết hợp
Traffic class và Flow Label, có cơ chế tự động cấu
h́nh mà không cần sự hỗ trợ của máy chủ DHCP, hỗ trợ
tốt hơn multicast, tích hợp giao thức bảo mật Ipsec,
từ đó cho thấy IPv6 có nhiều lợi ích thiết thực: ứng
dụng thời gian thực và tích hợp tương tác cao, xử lư
hiệu quả hơn tại các router trung gian, đặc biệt là
sự định tuyến trong Mobile- IP, điều khiển lưu lượng
tốt hơn, giảm thiểu công cài đặt và quản lư của
người quản trị mạng, xác thực và mă hóa dữ liệu
truyền khi cần thiết. Với các lợi điểm trên đây,
IPv6 có thể được ứng dụng khá rộng răi trong các
lĩnh vực: thương mại, tài chính, ngân hàng, giáo dục,
chuẩn đoán chữa bệnh từ xa, dự báo thảm họa môi
trường, thời tiết và cả trong an ninh quốc pḥng.
Tuy có những hạn chế nhất định như vừa nêu trên song
IPv4 đang hiện hữu với một số lượng khách hàng đông
đảo, một nguồn tài nguyên có giá trị lớn, kèm theo
thói quen ngại thay đối th́ không thể một lúc xóa bỏ
ngay toàn bộ các địa chỉ đă cài đặt trên IPv4. Như
vậy đề tài đặt ra giải pháp là phải xây dựng hạ tầng
chuyển tiếp với các thành phần xử lư trung gian về
phân giải tên miền ra các địa chỉ tương ứng với mỗi
không gian hiện hữu (DNSV 4-6), tạo ra những thành
phần xử lư chuyển tiếp gói IPv6 trong môi trường
IPv4 hay ngược lại, nghĩa là đồng thời phải sử dụng
cả hai không gian địa chỉ để tránh lăng phí tài
nguyên, tạo ra sự đồng bộ trong giao tiếp, dần dần
làm cho thế hệ địa chỉ IPv6 thay thế được IPv4. Đề
tài đưa ra một số cơ chế cho thời kỳ chuyển tiếp từ
IPv4 sang Ipv6: dùng hệ thống hỗ trợ đồng thời hai
thế hệ địa chỉ (hệ thống Dual Stack), hoặc cơ chế
chuyển tiếp đường hầm (Tunnel).
Từ những phân tích nêu
trên, đề tài đề suất việc tiến hành ứng dụng tại Học
viện cơ sở theo các bước: tái cấu trúc lại mạng
intranet hiện hữu của Học viện cơ sở (gọi tắt là
PTITHCM- Net) – từng bước triển khai IPv6 thành phần
– nâng cấp PTITHCM- REN (pḥng Lap Khoa CNTT) thành
mạng IPv6 riêng rẽ với PTITHCM bởi hạ tầng chuyển
tiếp DSTM và nối với các mạng IPv6 khác thông qua
thành phần chuyển tiếp đường hầm 6 to 4 qua mạng
trung gian internet IPv4. Đề tài được đánh giá vào
loại khá. |
|
 |
|
Quang cảnh một buổi báo cáo đề tài
khoa học- Ảnh Thành Nguyễn
|
|
2- Dùng màn h́nh cảm ứng công cộng để tra cứu thông
tin:
Không mới nhưng hữu dụng:
Ngày nay, ở đâu đó trong đời sống thường nhật, chúng
ta vẫn bắt gặp người ta sử dụng các thiết bị có màn
h́nh cảm ứng. Đó là những chiếc máy tính xách tay,
chiếc điện thoại di động hoặc các thiết bị cảm ứng
đặt tại các siêu thị…. Tuy nhiên, điều ấy vẫn c̣n xa
lạ với đại đa số công chúng, trong đó có đội ngũ
sinh viên- những người c̣n đang phụ thuộc gia đ́nh
cung cấp tiền ăn học hàng tháng th́ cơ hội sử dụng
các thiết bị có màn h́nh cảm ứng là không nhiều.
Qua
khảo sát, Th.s Lê Tuấn Anh nhận ra một nhu
cầu có thực từ đông đảo sinh viên trong Học viện cơ
sở. Khi sinh viên muốn biết thông tin về thời khóa
biểu, bảng điểm, lịch thi, học phí, lịch thực tập,
làm đồ án tốt nghiệp… đều phải đi đến các thành phần
đơn lẻ ( các khoa, pḥng…) để nắm thông tin, vừa mất
thời gian, tốn công sức mà không phải lúc nào cũng
được đáp ứng đầy đủ thông tin mà ḿnh mong muốn. Từ
nhu cầu thực tiễn đó, Th.s Lê Tuấn Anh đă
nghiên cứu và đưa ra giải pháp : dùng hệ thống thông
tin sinh viên- có chức năng cập nhật và lưu giữ
thông tin của nhà trường liên quan tới sinh viên- để
các em và phụ huynh sinh viên có thể truy cập xem
thông tin bất cứ lúc nào.
Để
kết nối, truy cập với Hệ thống thông tin sinh viên,
đề tài đưa ra phương án đặt ở nơi công cộng trong
khuôn viên Học viện một thiết bị có màn h́nh cảm ứng
- gọi là Kiosk. Kiosk này tra cứu thông tin thông
qua hệ thống thông tin sinh viên được quản lư tập
trung trên một hệ thống quản lư nội dung CMS
(Content Management System). CMS là một phần mềm
dùng để tạo ra, soạn thảo, quản lư và xuất bản nội
dung thông tin một cách có tổ chức. Các pḥng, ban,
khoa có nhiệm vụ tạo ra và cung cấp thông tin cho hệ
thống thông tin sinh viên. Nguồn thông tin này được
đưa lên hệ thống mạng nội bộ gọi là Extranet, thông
qua tŕnh duyệt web và người quản trị hệ thống,
thông tin được xử lư, xuất bản rồi đưa tới CMS, quản
lư trong data base (SQL Server). Thông qua một
Adapter (chuyển đổi dữ liệu giữa phần mềm ứng dụng
dạng XML), từ kiosk, sinh viên có thể tra cứu thông
tin một cách dễ dàng thuận lợi. Việc thiết kế giao
diện giữa kiosk với người sử dụng được đánh giá là
thân thiện, dễ dàng cho việc t́m kiếm thông tin
nhanh chóng. Đây cũng là đề tài được đánh gia cao,
có thể lắp đặt ngay tại Học viện cơ sở.
3- Với xu thế chung hiện nay
là hướng tới phương pháp thi trắc nghiệm thay thế
cho thi viết trong nhà trường đ̣i hỏi phải có một
ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm rất lớn mới có thể đáp
ứng. Là người giảng dạy môn kỹ thuật đồ họa thuộc
khoa công nghệ thông tin 2 (HVCNBCVT CS tại TP.HCM),
Th.s Trần Minh Nhật đă nghiên cứu đưa ra đề tài “Xây
dựng chương tŕnh phát sinh bộ đề thi trắc nghiệm
môn kỹ thuật đồ họa”. Đề tài đă dùng các phương pháp
thuật toán trong kỹ thuật đồ họa tạo ra hệ thống
soạn thảo đề thi trắc nghiệm với các bước cơ bản:
nhập thông tin- thông qua chương tŕnh xử lư- xuất
thông tin, trong đó hệ thống dùng thuật toán dạng đồ
họa 2D ( với mô h́nh đường thẳng- thuật toán DDA,
đường tṛn- thuật toán Bresenham, đường cong
conics), và dạng đồ họa 3D (khử mặt khuất, đường
cong..).
Với
ứng dụng này, khi cần ra một câu hỏi đề thi, chỉ cần
chọn một dạng thuật toán cụ thể ( ví dụ thuật toán
mô h́nh đường thẳng- DDA), ở đầu vào (các điểm mà
đường thẳng đi qua) chọn các thông số bất kỳ (bằng
các số tự nhiên bất kỳ) và chọn các bước (cũng là
các số tự nhiên bất kỳ) th́ tại đầu ra (xuất thông
tin) sẽ cho ra một câu hỏi và một đáp án tương ứng.
Giải pháp này sẽ rút ngắn rất nhiều thời gian và
công sức của giảng viên trong việc ra đề thi trắc
nghiệm.
Trên đây
là kết quả một số đề tài nghiên cứu khoa học công
nghệ năm 2008 tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn
thông cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh. Hy vọng thời gian
tới phong trào nghiên cứu khoa học công nghệ tại Học
viện cơ sở sẽ phát triển sâu rộng hơn nữa, ứng dụng
vào công tác quản lư cũng như giảng dạy tại trường. |
|
Thành Nguyễn
Tạp chí CNTT & Truyền thông |
|
<<--Trở về |
|
|
|
| |
|
|
|
|
 |
|
|